Web MietVuon.vn
 
 

 

Hướng Đến Giữ Vững Thương Hiệu Trái Cây Việt

Hội thảo “Giữ vững thương hiệu trái cây tỉnh Bến Tre” do Sở Khoa học và Công nghệ Bến Tre tổ chức là một trong ba nội dung hội thảo của chương trình Ngày hội Cây-trái ngon, an toàn và sản phẩm nông nghiệp tỉnh Bến Tre lần X, năm 2010 vừa diễn ra tại Hội trường UBND huyện Chợ Lách. Hội thảo đã thu hút hơn 300 nông dân tham dự và các diễn giả trình bày tham luận nêu những rào cản và những giải pháp để trái cây Việt Nam chiếm lĩnh thị trường trong nước và xuất khẩu sang các nước trên thế giới.

 

 

 

Theo Tiến sĩ Nguyễn Văn Hòa-Viện Phó Viện Nghiên cứu Cây ăn quả miền Nam, những năm gần đây, giá trị xuất khẩu rau quả của Việt Nam luôn tăng. Năm 2000, giá trị xuất khẩu đạt 213,1 triệu USD, 2008: 396 và 2009: 438 triệu USD, trong đó giá trị xuất khẩu quả luôn chiếm cao hơn. Thạc sĩ Bùi Thanh Liêm, Trưởng Phòng Nông nghiệp&PTNT huyện Chợ Lách cho rằng, với diện tích khoảng 40.000 ha, cây ăn trái được xem là thế mạnh của Bến Tre, trong đó Chợ Lách có các chủng loại trái cây như chôm chôm, sầu riêng, xoài cát, măng cụt, bưởi da xanh, bòn bon, nhãn...

 

Tiến sĩ Hòa và Thạc sĩ Liêm cùng trăn trở: Sản lượng trái cây cả nước đạt 8 triệu tấn/năm, nhưng xuất khẩu chỉ chiếm 10%, số còn lại phải tiêu thụ nội địa. Bức tranh chung của ngành sản xuất trái cây Việt Nam là sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, chưa được quy hoạch hợp lý và đầu tư đúng mức để hình thành vùng chuyên canh diện tích lớn, áp dụng cùng một quy trình sản xuất, sản lượng lớn và liên tục, chất lượng đồng đều. Trái thu hoạch chủ yếu bằng biện pháp thủ công, tỷ lệ tổn thất sau thu hoạch từ 20-25%. Khâu xử lý sau thu hoạch như: đóng gói, kho lạnh trữ quả; chế biến còn thấp kém. Trong sản xuất, chi phí đầu vào cao, trong khi đó giá thành sản phẩm tại vườn lại quá thấp, do qua nhiều trung gian. Việt Nam chưa có thương hiệu cho từng loại trái cây trên thị trường thế giới, nên dễ dàng để các nước láng giềng vượt qua và chiếm ưu thế. Giá thành vận chuyển trái cây xuất khẩu bằng đường hàng không cao so với các nước, việc vận chuyển bằng đường biển chưa đáp ứng do công nghệ bảo quản sau thu hoạch chưa phát triển.

 

Thạc sĩ Bùi Thanh Liêm bức xúc: Nhiều doanh nghiệp chưa hiểu rõ vai trò của thương hiệu và còn lẫn lộn giữa  thương hiệu với nhãn hàng hóa; chưa quan tâm và đăng ký bảo hộ thương hiệu, trái cây xuất khẩu phải mang thương hiệu các nước khác. Cụ thể 90% lượng trái cây Việt Nam xuất khẩu phải mang thương hiệu các nước như Thái Lan, Trung Quốc. Ngay cả thị trường trong nước, hình ảnh trái cây Việt Nam vẫn chưa “thuyết phục” người tiêu dùng. Hiện nay, xu thế của thị trường nội địa vẫn ưa chuộng tiêu dùng trái cây có thương hiệu. Từ lâu, nhiều tỉnh đã bàn chuyện tổ chức vùng nguyên liệu trái cây để cạnh tranh với các nước trong khu vực nhưng vẫn “giẫm chân tại chỗ”. Thạc sĩ Liêm nhận định: Xây dựng thương hiệu là cần thiết, nhưng chưa cấp thiết bằng xây dựng vùng nguyên liệu; tránh xây nhà bắt đầu từ trên nóc. Nhiều thương hiệu ra đời, khẳng định chỗ đứng trên thị trường nhưng tiềm ẩn nguy cơ do số lượng không đáp ứng nhu cầu, chất lượng, mẫu mã trái cây trong một vùng không giống có thể dẫn đến tự hủy hoại thương hiệu.

 

Kỹ sư Nguyễn Quý Hùng, Công ty Cổ phần Bảo vệ thực vật An Giang thì quan tâm đến vấn đề sử dụng thuốc bảo vệ thực vật. Hiện việc xuất khẩu trái cây còn gặp nhiều khó khăn do số lượng không đủ, độ đồng đều chưa cao thì còn nguyên nhân nữa là do chưa đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm; phổ biến vẫn là trái cây bị nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật vượt mức quy định. Người sản xuất dùng thuốc thì nhiều mà hiểu biết về thuốc còn quá ít. Theo kết quả điều tra của Cục Bảo vệ Thực vật, vùng trồng cây ăn trái khu vực đồng bằng sông Cửu Long, mỗi vụ sản xuất nông dân sử dụng trung bình khoảng 10 lần, một số sử dụng tới 30-40 lần. Kết quả kiểm tra 3.350 nông dân các tỉnh của chương trình huấn luyện nông dân sử dụng an toàn và hiệu quả thuốc bảo vệ thực vật trên cây ăn trái cho thấy: Hầu như nông dân chưa thực sự hiểu sử dụng an toàn, hiệu quả thuốc bảo vệ thực vật và nguyên tắc 4 đúng trong sử dụng thuốc, mua thuốc quan tâm trừ dịch hại mà ít quan tâm độc tính của thuốc...

 

Tiến sĩ Nguyễn Văn Hòa đưa ra nhiều giải pháp để giữ vững thương hiệu trái cây của Việt Nam. Trước hết, phải thực hiện liên kết vùng, mỗi tỉnh chọn từ 1 đến 2 chủng loại cây ăn quả để quy hoạch và đầu tư từ tổ chức sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm. Thực hiện chiến lược tích tụ diện tích đất trồng cùng một loại sản phẩm cây ăn quả. Mỗi tỉnh thành lập ban chỉ đạo thực hiện chương trình tam nông theo Nghị quyết số 26 Hội nghị lần thứ 7 của Ban Chấp hành Trung ương khóa X. Tổ chức sản xuất theo tiêu chuẩn GlobalGAP hoặc VietGAP. Xây dựng thương hiệu mạnh, đảm bảo uy tín, chất lượng và quảng bá đầy đủ trong và ngoài nước. Xây dựng mối liên kết bền vững giữa các bên, tập trung mối liên kết chặt chẽ giữa nông dân (nhóm sản xuất, hợp tác xã) và doanh nghiệp (nhà chế biến, đóng gói, xuất khẩu). Từng tỉnh xây dựng dự án phát triển cây ăn trái để ngân hàng xem xét tính khả thi cho nông dân vay vốn đến 50 triệu đồng không cần thế chấp và lãi suất thấp. Tăng cường công tác nghiên cứu khoa học và phổ biến kỹ thuật sản xuất cây ăn trái…

(Trần Quốc)

 

*Về Đầu Trang